Cách ra đề trắc nghiệm đúng sai và trả lời ngắn theo cấu trúc mới (kèm ví dụ)
Hướng dẫn ra câu đúng sai 4 ý và câu trả lời ngắn theo cấu trúc đề mới: cách chọn 4 ý, tránh bẫy vô lý, ví dụ cụ thể và cách đưa lên thi online chấm tự động.
Thế Toàn Đỗ
Author

Từ kỳ thi tốt nghiệp THPT 2025, đề trắc nghiệm không còn chỉ có A, B, C, D. Đề có ba phần: nhiều lựa chọn, đúng sai và trả lời ngắn. Nhiều trường đã đưa luôn cấu trúc này vào bài kiểm tra giữa kì và cuối kì. Nếu thầy cô đang ngồi soạn đề và thấy phần đúng sai khó ra hơn hẳn, bài này dành cho thầy cô.
Trả lời nhanh: Một câu đúng sai tốt gồm một phần dẫn rõ ràng và 4 ý a, b, c, d. Mỗi ý kiểm tra một kiến thức riêng, đi từ nhận biết lên vận dụng, và đúng hay sai phải dứt khoát. Câu trả lời ngắn thì chỉ có một đáp án duy nhất, thường là một con số, và đề phải nói rõ cách làm tròn.
Ba phần của đề trắc nghiệm mới, nhắc lại thật ngắn
Phần I, nhiều lựa chọn: 4 phương án, 1 đáp án đúng, mỗi câu 0,25 điểm.
Phần II, đúng sai: mỗi câu có 4 ý. Học sinh phải chọn Đúng hoặc Sai cho từng ý. Điểm tăng theo số ý đúng trong câu: đúng 1 ý được 0,1 điểm, 2 ý được 0,25, 3 ý được 0,5, đủ 4 ý được 1 điểm.
Phần III, trả lời ngắn: học sinh tự điền đáp án, không có phương án để đoán.
Cách tính điểm phần II là chỗ đáng để ý nhất. Học sinh đúng 3 trên 4 ý chỉ được nửa số điểm, nên ý thứ tư (thường là ý vận dụng) quyết định rất nhiều. Đề ra tốt là đề mà ý khó thật sự phân loại được học sinh, chứ không phải bẫy chữ.
Cách ra một câu đúng sai 4 ý
Bước 1: chọn phần dẫn có "chất liệu"
Phần dẫn nên là một tình huống, một bảng số liệu, một đồ thị, một đoạn thí nghiệm hay một đoạn văn bản, đủ để rút ra 4 nhận định khác nhau. Nếu phần dẫn chỉ là một câu định nghĩa, thầy cô sẽ rất khó nghĩ ra ý thứ ba, thứ tư mà không lặp.
Bước 2: xếp 4 ý từ dễ đến khó
Một cách chia hay dùng:
Ý a, nhận biết: đọc phần dẫn là trả lời được.
Ý b, thông hiểu: cần hiểu khái niệm hoặc làm một phép tính ngắn.
Ý c, thông hiểu hoặc vận dụng: cần kết hợp hai dữ kiện.
Ý d, vận dụng: suy luận nhiều bước, hoặc áp dụng vào tình huống mới.
Bước 3: mỗi ý chỉ kiểm tra một điều
Ý "Phản ứng tỏa nhiệt và tốc độ tăng khi tăng nhiệt độ" đang gộp hai nhận định. Học sinh biết vế đầu mà không chắc vế sau sẽ bị phạt oan. Tách thành hai ý, hoặc bỏ bớt một vế.
Bước 4: đúng hay sai phải dứt khoát
Tránh các từ "luôn luôn", "không bao giờ", "thường" nếu kiến thức có ngoại lệ. Một ý mà giáo viên trong tổ còn cãi nhau xem đúng hay sai thì học sinh càng không làm được, và đó là lỗi của đề.
Bước 5: cân số ý đúng và sai
Không có quy định cứng, nhưng nếu đề nào cũng 3 đúng 1 sai thì học sinh sẽ đoán theo thói quen. Thay đổi tỉ lệ giữa các câu, có câu 2 đúng 2 sai, có câu 1 đúng 3 sai.
Ví dụ (Vật lí 12)
Một ấm điện có ghi 220 V – 1000 W được dùng đúng hiệu điện thế định mức để đun 1,5 lít nước từ 25 °C. Biết nhiệt dung riêng của nước là 4200 J/(kg.K), bỏ qua hao phí.
Công suất của ấm khi hoạt động là 1000 W. (Đúng)
Nhiệt lượng cần để nước sôi ở 100 °C là 472 500 J. (Đúng)
Thời gian đun sôi nước là khoảng 4 phút. (Sai, khoảng 7,9 phút)
Nếu dùng ấm ở hiệu điện thế 110 V thì thời gian đun sôi tăng gấp đôi. (Sai, công suất giảm 4 lần nên thời gian tăng khoảng 4 lần)
Ý d là ý phân loại: học sinh phải nhớ công suất tỉ lệ với bình phương hiệu điện thế, không phải tỉ lệ thuận.
Cách ra câu trả lời ngắn
Phần này "khó gian lận" nhất vì không có phương án nào để đoán. Đổi lại, người ra đề phải chặn mọi cách hiểu khác của đáp án.
Chỉ một đáp án duy nhất. Nếu phương trình có hai nghiệm, hỏi rõ "nghiệm dương" hay "nghiệm lớn hơn".
Nói rõ cách làm tròn và đơn vị. "Làm tròn đến hàng phần mười", "tính theo đơn vị cm". Thiếu câu này, học sinh ghi 7,9 hay 7,88 đều có lý.
Đáp án ngắn. Một số, một từ hoặc cụm từ rất ngắn. Nếu đáp án dài một câu, đó nên là câu tự luận.
Kiểm tra lại bằng cách tự làm. Giải lại đề như học sinh, không nhìn đáp án. Câu nào mình phải đọc hai lần mới hiểu thì học sinh cũng vậy.
Ví dụ: "Một cấp số cộng có u₁ = 3 và công sai d = 4. Tính tổng 10 số hạng đầu." Đáp án: 210.
Lỗi hay gặp khi mới ra đề theo cấu trúc mới
Bốn ý đều ở mức nhận biết. Đề dễ đều, không phân loại được học sinh khá giỏi.
Ý sai vì một chữ. Đổi "tăng" thành "giảm" một cách máy móc khiến ý sai quá lộ. Ý sai tốt là ý mà học sinh hiểu nhầm phổ biến sẽ chọn Đúng.
Phần dẫn dài mà chỉ dùng một dòng. Học sinh mất thời gian đọc phần không cần thiết.
Câu trả lời ngắn có hai đáp án hợp lý. Thường do thiếu đơn vị hoặc cách làm tròn.
Đưa đề lên thi online để chấm tự động
Ra đề xong, phần mệt nhất là chấm phần II và phần III trên giấy. Trên rayQuiz, thầy cô có thể làm như sau:
Vào Tạo đề thi mới, đặt tên và thời lượng.
Phần I: gõ câu nhiều lựa chọn như bình thường, đáp án đúng đánh dấu
*.Phần II: đặt phần dẫn làm một đoạn văn (đoạn dẫn dùng chung), rồi thêm 4 câu Đúng/Sai bên dưới cho 4 ý a, b, c, d.
Phần III: dùng dạng điền vào chỗ trống với đúng một chỗ trống cho mỗi câu.
Mở Cài đặt bài thi để xáo câu, xáo đáp án và chọn có cho xem đáp án sau khi nộp hay không.
Lưu ý thật thà: rayQuiz chấm mỗi ý đúng sai như một câu riêng, chưa áp đúng thang 0,1 / 0,25 / 0,5 / 1 của Bộ. Với bài luyện tập trên lớp thì điều này không ảnh hưởng mấy, vì học sinh vẫn thấy rõ ý nào sai. Với bài lấy điểm chính thức, thầy cô nên quy đổi lại theo thang của Bộ.
Nếu chưa quen cú pháp, bấm nút Cú pháp (hoặc Alt + H) trong trình soạn để chèn mẫu có sẵn cho từng dạng. Có sẵn đề Word thì nhập thẳng file, không cần gõ lại. Xem thêm hướng dẫn soạn đề đầu tiên hoặc thử tạo đề thi trắc nghiệm online miễn phí.
Câu hỏi thường gặp
Một câu đúng sai nên có mấy ý đúng? Không có quy định cố định. Nên thay đổi giữa các câu (1, 2 hoặc 3 ý đúng) để học sinh không đoán theo quy luật.
Có thể dùng AI để ra câu đúng sai không? Có, AI viết bản nháp rất nhanh, nhưng thầy cô vẫn phải đọc lại từng ý, nhất là ý vận dụng, vì AI hay viết ý "nửa đúng nửa sai". Xem cách tạo đề thi bằng AI từ giáo án có sẵn.
Câu trả lời ngắn có chấm được chữ không? Được, nhưng nên giới hạn ở một từ hoặc cụm từ rất ngắn và nghĩ trước các cách viết khác nhau (có dấu, không dấu, viết hoa) để tránh chấm sai.
Nguồn về cấu trúc và cách tính điểm: Bộ GD&ĐT công bố định dạng đề thi tốt nghiệp THPT từ năm 2025 (Đại biểu Nhân dân). Thầy cô nên đối chiếu thêm hướng dẫn của Sở và tổ chuyên môn trường mình.